Hướng dẫn hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 594/2022/NQ-UBTVQH15 (Nghị quyết 594) hướng dẫn hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND), Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND. 

Giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND (gọi chung là giám sát của HĐND) là thực hiện sự ủy quyền của Nhân dân để giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, là hình thức thể hiện quyền giám sát của Nhân dân thông qua cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương.

Thường trực HĐND huyện đi khảo sát phục vụ công tác giám sát chuyên đề

Nghị quyết số 594/NQ-UBTVQH15 hướng dẫn chi tiết nhiều điểm, tạo thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tiến hành các hoạt động giám sát, bảo đảm các hoạt động giám sát được thực hiện thống nhất, nâng cao tính chuyên nghiệp. Trong đó, song song với việc bảo đảm đúng nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, Nghị quyết quy định thêm các nguyên tắc: Tiến hành thường xuyên, bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; báo cáo kết quả giám sát kịp thời và đúng thời hạn; chú trọng theo dõi, đôn đốc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Nghị quyết này hướng dẫn về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện, báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát và xem xét việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân; hoạt động chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân và chất vấn, giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát chuyên đề của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân; hoạt động giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Nghị quyết cũng hướng dẫn cụ thể việc lập hồ sơ, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện; trách nhiệm lồng ghép nội dung giám sát về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tội phạm; báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát và xem xét việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát của HĐND, Thường trực, các Ban, Tổ đại biểu, đại biểu HĐND; hoạt động chất vấn tại kỳ họp HĐND, chất vấn, giải trình tại phiên họp Thường trực HĐND; giám sát chuyên đề; hoạt động giám sát của Tổ đại biểu và giám sát của đại biểu HĐND.

Nhìn chung, hoạt động giám sát thường bao gồm ba giai đoạn: thành lập đoàn giám sát, xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát; triển khai thực hiện kế hoạch và kết luận, kiến nghị, đề xuất sau giám sát. Do vậy, để hoạt động giám sát có hiệu quả phải quan tâm một cách toàn diện cả ba giai đoạn này. Trong đó, kết luận giám sát và kiến nghị được xem là phần quan trọng nhất, là biểu hiện tập trung nhất của hiệu quả của hoạt động giám sát. Để đảm bảo cho việc theo dõi, đôn đốc thực hiện Nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát, Nghị quyết nêu rõ: Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân chủ động theo dõi, kịp thời đôn đốc cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát và báo cáo kết quả việc thực hiện đến Thường trực Hội đồng nhân dân. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đúng yêu cầu trong nghị quyết, kết luận, kiến nghị thì Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân gửi văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát giải trình về việc chậm thực hiện hoặc không thực hiện và làm rõ trách nhiệm, đề xuất biện pháp xử lý.

Công khai, minh bạch và số hóa dữ liệu giám sát

Nghị quyết số 594/NQ-UBTVQH15 quy định sau 15 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn thực hiện những vấn đề đã được Hội đồng nhân dân kết luận, kiến nghị, Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm đăng tải công khai kết quả giám sát trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương hoặc công khai bằng hình thức khác phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để cử tri và Nhân dân theo dõi, giám sát, trừ trường hợp thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Quy định này thể hiện tính công khai, minh bạch, ý thức tôn trọng Nhân dân, tinh thần phát huy dân chủ, mở rộng và tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước, làm nền tảng cho các quyết sách, góp phần củng cố lòng tin của dân với Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa để phục vụ hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; bảo đảm sự liên thông về dữ liệu giám sát giữa Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan có liên quan. 

Sớm xây dựng, triển khai ứng dụng phục vụ hoạt động của HĐND nói chung, hoạt động giám sát nói riêng; xây dựng các cơ sở dữ liệu đồng bộ từ cấp tỉnh đến địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động giám sát; có văn bản hướng dẫn quy định việc kết nối chia sẻ dữ liệu giữa Thường trực HĐND các cấp với các cơ quan liên quan ở tỉnh và kết nối với dữ liệu giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Trong việc xây dựng ứng dụng phục vụ hoạt động của HĐND cũng cần quan tâm thiết lập các ứng dụng đơn giản, thân thiện với cử tri để tăng cường sự kết nối giữa cơ quan dân cử với Nhân dân nhằm thu thập ý kiến, kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng từ phía người dân.

Tin liên quan

Dữ liệu đang được cập nhật...